Sóng siêu âm và ứng dụng y học

Siêu âm là một loại âm thanh có tần số rất cao so với tần số âm thanh mà con người có thể nghe thấy được. Thông thường tần số siêu âm sẽ có cường độ lớn hơn 20 kHz.

Sóng siêu âm có thể lan truyền trong nhiều môi trường khác nhau giống với sự lan truyền và tốc độ của âm thanh trong các môi trường như không khí, các chất lỏng, rắn. Nhưng tần số của sóng siêu âm cao hơn nhiều so với âm thanh nên bước sóng của sóng siêu âm sẽ ngắn hơn bước sóng của âm thanh. Nhờ vào điều này mà sóng siêu âm được truyền qua các vật chất tốt hơn và độ phân giải từ ảnh chụp siêu âm sẽ cho chất lượng tốt hơn. Vì thế mà siêu âm được ứng dụng nhiều trong chuẩn đoán y học hoặc chụp ảnh bên trong linh kiện cơ khí để kiểm tra cấu trúc. Bên cạnh đó, sóng siêu âm còn ứng dụng để quan trắc, đo khoảng cách, vận tốc hoặc dùng để làm sách thiết bị, dụng cụ,…

Ứng dụng trong y học

Trong y học, thiết bị siêu âm là một thiết bị rất có hiệu quả trong việc ghi nhận hình ảnh của các mô mềm. Thông thường trong y khoa người ta dùng tần số 1 – 15MHz để truyền chùm âm đi xuyên qua cơ thể. Khi hình siêu âm hiện trên màn hình có nền đen, các tín hiệu cường độ mạnh hiện lên màu trắng, không có tín hiệu hiện lên màu đen, còn các tín hiệu với cường độ trung gian thể hiện qua các sắc xám (thang xám). Trong y khoa, thường sử dụng siêu âm 2D để tiến hành các kiểm tra sơ bộ, siêu âm 3D để khám thai, khám tuyến giáp hay siêu âm Doppler để kiểm tra mạch máu bệnh nhân.